090.490.7252



Nữ hoàng dưỡng sinh Hibiscus Sabdariffa

Chúng ta hãy cùng khám phá những ứng dụng tuyệt vời từ loài thảo mộc Hibiscus.

Loại cây này có từ bao giờ? Xuất hiện ở đâu trước tiên? Thật khó trả lời cho những câu hỏi đó.Chỉ biết rằng những năm đầu thế kỷ XX người dân Braxin đã biết sử dụng Hibiscus. Những bông hoa to, đỏ, rực rỡ trở thành quen thuộc trong các nghi lễ cũng như đời sống hàng ngày. Con người dùng cái nước màu lấy từ hoa để nhuộm màu, làm thành đồ trang điểm tạo vẻ đẹp mắt cho các món ăn.

Thời gian đã giúp Hibiscus khẳng định vị trí của mình. Từ năm 1910 đã có những nghiên cứu nghiêm túc về chất màu của Hibiscus. Nhiều vùng đất trở thành quê hương của Hibiscus như Ấn Độ, Ý, Đức, Thái Lan. Còn Hibiscus trở thành đối tượng nghiên cứu của giới y học.

Trong cuốn sách về các loài dược thảo của Thái Lan (Thai medical Plants) đã có thống kê trên 90 tác phẩm - là những bài báo, tiểu luận, sách - viết về Hibiscus, Ở đó toát lên khả năng kỳ diệu của những bông hoa bé bỏng. Không chỉ có màu sắc, các nhà khoa học đã khẳng định sự có mặt của nhiều hợp chất trong cây là những bài thuốc chữa bệnh tuyệt vời. Các thí nghiệm trên chuột, thỏ và cả người nữa đã chứng tỏ về khả năng kháng khuẩn, kháng nấm và chống độc của hoa. Đặc biệt, trong cây còn có những hợp chất rất hữu ích cho việc chữa các bệnh về đường tiết niệu, huyết áp và ung thư. Chị Đào Thị Kim Nhung (bộ môn sinh hoá – Khoa sinh học trường đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội) đã chỉ cho chúng tôi.

Theo kết quả nghiên cứu của giới y học về loại cây này thì đây là một nhà máy hoá chất khổng lồ. Chỉ riêng một vài hợp chất tôi sắp kể ra đây đã đủ chứng minh điều đó.

Trước hết là B-Carotène - tiền sinh Vitamin A, B-Carotène có khả năng chống lại quá trình oxy hoá. Cho đến nay con người vẫn bó tay trước căn bệnh ung thư. Những gì chúng ta làm là hạn chế sự phát triển của tế bào K để kéo dài thời gian phát tác con bệnh từ bộ phần này sang bộ phận khác của cơ thể. B-Carotène cũng hoạt động giống như vậy.

B-Carotène là một hợp chất được phát hiện thấy nhiều nhất ở lá cây Hibiscus. Đât là hợp nhất ở lá cây Hibiscus. Đây là hợp chất có khả năng tạo nên những kháng sinh có bản chất Steroid. Nếu tác dụng của tia tử ngoại, chúng ta sẽ tổng hợp được vitamin D từ B-sitosterol. Nhưng điều phải kể đến nhiều hơn là hợp chất này tham gia vào quá trình tổng hợp các hoóc môn đặc biệt là tuyến thượng thận.

Hai chất có tính hinh dược học cao có ở hibiscus là anthoxanthin (anthocyhanin) và quercetin. Những chất này có tác dụng nhiều mặt. Chống viêm là một khả năng. Tuỳ vào từng chất Quercetin cụ thể mà có khả năng chống sự phát triển của tế bào ác tính. Hai tác dụng đó tạo nên khả năng chống ung thư. Ngoài ra anthocyanin và quercelin còn có khả năng kháng khuẩn, kháng nấm. Đặc biệt khi chúng tác dụng lên chứ năng gan, mật thì có thể điều hoà hàm lượng cholesterol trong máu, chuyển hoá chất béo giúp hạn chế nguy cơ xơ vữa động mạch tai biến mạch máu.

Thêm vào đó người ta cũng phát hiện ra các axit béo không no đặc biệt nhiều trong dầu của hạt vì những axit này có thể hoà tan trong môi trường dầu.

Lá có vị chua, để nấu canh chua. Lá luộn ăn thay rau. Hoa có thể ăn sống. Hoa lá giấm có tính thanh niệt, chỉ khát, thông tiểu, nó còn làm mát gan, tăng tiết mật. Cả cây có rất nhiều polysaccharid trong chất nhầy. Năm 1992, Muller và Frranz tách polysaccharid tan trong nước ra ba loại HIB, HIB-3 có khả năng ức chế ung bướu.

Chất nhầy ngoại hấp cholesterol. Chất nhầy của cây giấm phụ trị cholesterol - huyết. Flavonoid và cyanidin để bảo vệ thành mạch máu. Joe.A.Vinson (1995) thông báo hai nhóm chất này có tính chống oxy hoá, giúp ngăn ngừa các bệnh tim mạch và ung thư. Với tính giảm cholesterol, bảo vệ thành mạch, thông tiểu, cây giấm dùng cho bệnh tim mạch rất thuận lợi.

Năm 1962, Sharaf xác nhận các dược tính: chống co thắt, hạ huyết áp, kháng khuẩn của hoa giấm.

Năm 1979, Gargrade nhận thấy thành phần không xà phòng hoá của dầu hạt giấm có tính kháng khuẩn.

Vỏ thân cây dai phù hợp để làm bột giấy. Tỷ lệ dầu có trong hạt là 10% nếu ép lấy dầu ăn thì thành phần tương đương dầu hướng dương. Thân cây làm chất đốt. Trung tâm Công nghệ sinh học đã tiến hành nghiên cứu chất màu của hoa để sử dụng làm phẩm màu thực phẩm. Đây có lẽ là điều cần quan tâm vì vấn đề sử dụng phẩm màu trong ăn uống liên quan trực tiếp đến sức khoẻ con người. Hẳn chúng ta còn nhớ hậu quả của việc sử dụng tuỳ tiện chất màu ở các xưởng sản xuất bánh kẹo, rượu mầu khiến cho người tiêu dùng ngộ độc hàng loạt.

Đề tài nghiên cứu đã khai thác Hibiscus ở khía cạnh nguyên liệu, từ đó chế biến ra nước giải khát và chiết xuất phẩm màu. Sản phẩm hiện nay là nước giải khát, rượu vang và chè nhúng. Nhưng đó chỉ là những con số hết sức nhỏ bé và mới khai thác được những tác dụng trực tiếp của Hibiscus mà trung tâm công nghệ sinh học Trung ương đã thực hiện trong 2 năm qua.

Tìm về thiên nhiên, xu hướng đó đang là kim chỉ nam của nhân loại giúp chúng ta tự cân bằng lại chính cuộc sống và môi trường sống của mình. Hibiscus thực sự đang chờ được quan tâm một cách thích đáng. Cây Hibiscus là ứng cử viên số 1 của chương trình "xoá đói giảm nghèo".

Thảo Mộc sưu tầm.